LUẬN CƯƠNG CHÁNH TRỊ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG
(Dự án để thảo luận trong Đảng)
I. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ CÁCH MẠNG ĐÔNG DƯƠNG
1. Từ sau lúc đế quốc chiến tranh (1914-18), tình hình thế giới có thể chia ra làm ba thời kỳ:
a)
Trong thời kỳ thứ nhứt (1918-23), kinh tế tư bổn vì chiến tranh mà
tiêu điều, khủng hoảng, vô sản Âu châu nhiều chỗ nổi lên tranh đấu
cướp chánh quyền. Rút cuộc, một mặt thì vô sản Nga dẹp được bọn đế
quốc vây đánh ở ngoài và bọn phản cách mạng phá phách ở trong mà đặt
vững nền vô sản chuyên chánh; nhưng một mặt thì vô sản Tây Âu bị thất
bại (như vô sản Đức năm 1923).
b)
Trong thời kỳ thứ hai (1923-28), các đế quốc chủ nghĩa nhơn vô sản Âu
châu vừa thất bại, hết sức tiến công mà bóc lột vô sản giai cấp và
dân thuộc địa, làm cho kinh tế đế quốc được tạm thời ổn định. Vô sản
giai cấp ở các nước đế quốc vì thất bại trong thời kỳ trước cho nên
chỉ lo tranh đấu mà giữ thế thủ. ở các thuộc địa thì cách mạng nổi
lên. ở Liên bang Xôviết thì kinh tế trở nên vững vàng, làm cho ảnh
hưởng cộng sản lan khắp thế giới.
c) Thời kỳ thứ ba là thời kỳ hiện nay có những đặc điểm sau này:
Sự
tạm thời ổn định của tư bổn đã không thể giữ lại được nữa, mà lại đã
trở vào khủng hoảng, thành thử đế quốc chủ nghĩa lại càng phải giành
nhau thị trường rất kịch liệt, làm cho trận đế quốc chiến tranh sắp
tới không sao tránh khỏi được.
Kinh
tế Liên bang Xôviết đã phát triển lên quá trình độ trước thời kỳ đế
quốc chiến tranh, đã gây dựng xã hội chủ nghĩa một cách rất thắng lợi,
cho nên các đế quốc chủ nghĩa càng căm tức, muốn đánh đổ Liên bang
Xôviết là thành trì cách mạng thế giới.
Ở
các nước đế quốc thì vô sản giai cấp tranh đấu kịch liệt (bãi công
lớn ở Đức, ở Pháp, ở Ba Lan, v.v.); ở các thuộc địa thì phong trào
cách mạng rất là bồng bột (nhứt là Tàu và ấn Độ). Có phong trào cách
mạng như thế là vì tư bổn bị khủng khoảng và càng thẳng tay bóc lột
quần chúng, làm cho số công nhân thất nghiệp trong thế giới có hằng
mấy mươi triệu và tình cảnh quần chúng công nông rất khổ cực.
Trong
thời kỳ thứ ba này, cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa đã lên
đến trình độ rất cao, có nơi đã sắp sửa cướp chánh quyền.
Hiện
nay Đông Dương đã đem lực lượng cách mạng tham gia vào phong trào
tranh đấu rầm rột trong thế giới, mở rộng hàng trận công nông chống
với đế quốc chủ nghĩa. Vả lại phong trào cách mạng bồng bột trong thế
giới (nhứt là ở Tàu và ấn Độ) lại ảnh hưởng mạnh đến phong trào tranh
đấu ở Đông Dương, làm cho cách mạng Đông Dương càng mau bành trướng. Vậy nên cách mạng thế giới và cách mạng Đông Dương rất có quan hệ với nhau.
II- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ TÌNH HÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG
2. Xứ Đông Dương
(Việt Nam, Cao Miên và Lào) là một xứ thuộc địa để khai khẩn của đế
quốc chủ nghĩa Pháp. Bởi vậy kinh tế của Đông Dương bị phụ thuộc vào
kinh tế của đế quốc chủ nghĩa Pháp. Hai đều đặc điểm hơn hết ở trong
sự phát triển Đông Dương là: a) Xứ Đông Dương cần phải phát triển một
cách độc lập, nhưng vì là thuộc địa cho nên không phát triển độc lập
được.
b)
Sự mâu thuẫn giai cấp càng ngày càng kịch liệt: một bên thì thợ
thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong
kiến, tư bổn và đế quốc chủ nghĩa.
3. Mâu thuẫn về kinh tế
a)
Nông nghiệp thì phần nhiều là phải làm ra cho đế quốc chủ nghĩa đem
bán ở nước ngoài, tuy vậy mà cách kinh doanh vẫn không thoát khỏi lốt
phong kiến. Các thứ đồn điền (cao su, bông, cà phê, v.v.) thì phần
nhiều là của bọn tư bổn Pháp. Ruộng đất phần rất nhiều là của bọn địa
chủ bổn xứ. Kinh doanh theo lối phong kiến, nghĩa là cho dân cày nghèo
thuê từng miếng mà lấy địa tô rất cao. Hoa lợi về nghề làm ruộng ở
Đông Dương lại kém hơn ở các xứ khác (một hécta ở Mã Lai thì được 2.150
kilô lúa, ở Xiêm 1.870 kilô, ở Âu châu 4.570 kilô, ở Đông Dương chỉ
1.210 kilô). Lúa gạo xuất cảng hàng năm càng nhiều, nhưng không phải
vì nghề nông phát triển mà chánh là vì bọn tư bổn cướp gạo của dân mà
bán.
b)
Chế độ áp bức của đế quốc chủ nghĩa Pháp làm ngăn trở không cho sức
sanh sản Đông Dương phát triển. Đế quốc chủ nghĩa không khoách trương
các công nghệ nặng (như nấu sắt, đúc máy, v.v.), vì những công nghệ ấy
phát triển thì hại cho độc quyền của công nghệ Pháp. Nó chỉ phát
triển những công nghệ gì rất cần dùng cho sự thống trị và buôn bán của
nó mà thôi, như (đường xe lửa, xưởng đóng tàu nhỏ, v.v.). Mục đích
của đế quốc Pháp là cốt làm cho Đông Dương thành ra một xứ phụ thuộc về
nền kinh tế của nó, vì vậy nên nó chỉ cho phát triển công nghệ gì làm ở
Đông Dương có lợi cho nó hơn làm ở Pháp mà thôi. Sự khai khẩn nguyên
liệu không phải cốt làm cho xứ Đông Dương phát triển kinh tế một cách
độc lập, mà cốt làm cho công nghệ Pháp khỏi phải phụ thuộc vào các đế
quốc khác. c) Việc buôn bán xuất cảng thì nằm trong một bọn tư bổn
Pháp. Bởi vậy cho nên việc buôn bán và việc sanh sản trong xứ đều tuỳ
theo sự cần dùng xuất cảng của đế quốc Pháp. Thành thử xuất cảng càng
tăng tiến bao nhiêu thì các sản vật tự nhiên trong xứ lại bị đế quốc
chủ nghĩa rút hết bấy nhiêu. Lại có một đều đặc biệt nữa là các nhà ngân
hàng Pháp (như Đông Pháp ngân hàng, Địa ốc ngân hàng, v.v.) góp tiền
vốn của dân bổn xứ để dùm cho bọn buôn bán xuất cảng Pháp.
Nói tóm lại:
Kinh tế Đông Dương cũng vẫn là kinh tế nông nghiệp, mà trong kinh tế
ấy thì những lối phong kiến lại chiếm địa vị trọng yếu. Tất cả những
đều kiện ấy làm cho kinh tế Đông Dương không có thể phát triển độc lập
được.
4. Mâu thuẫn giai cấp
Đế
quốc chủ nghĩa Pháp liên hiệp với bọn địa chủ, bọn lái buôn và bọn
cho vay bổn xứ mà bóc lột dân cày một cách rất độc ác. Đế quốc chủ
nghĩa rút các sản vật nông nghiệp đem bán cho các nước ngoài, đem hàng
hoá của nó vào bán trong xứ, bắt dân đóng sưu cao, thuế nặng, làm cho
dân cày đói khổ và thủ công thất nghiệp rất nhiều.
Ruộng
đất thì lần lần rút vào tay đế quốc và địa chủ cả, lại có một bọn bao
đất về cho thuê lại (quá điền), ruộng đất thuê đi mướn lại mấy lần
mới đến dân cày nghèo, bởi vậy mà địa tô rất cao.
Dân
cày thiếu thốn phải đi vay, thì phải bị bọn cho vay bóc lột, đến nỗi
nhiều khi phải đem ruộng đất hoặc con cái mà gán nợ.
Đê
giữ nước lụt thì đế quốc không chú ý sửa sang. Dẫn thuỷ nhập điền thì
về tay một bọn tư bổn nó cho thuê rất cao, dân cày nghèo không có
tiền thì không có nước. Thành thử nạn mất mùa vì nước lụt và đại hạn
càng ngày càng nhiều. Vì vậy dân cày chẳng những là không có thể phát
triển kinh tế của họ, mà lại càng ngày càng phải phụ thuộc vào bọn tư
bổn và càng phải suy đồi số người thất nghiệp và chết đói càng ngày
càng đông.
Nền
kinh tế cũ thì phá hoại rất mau mà công nghệ mới thì phát triển rất
chậm; những người đói khó và thất nghiệp không thể hoá ra công nhơn
hết mà phải đọng lại trong nhà quê. Tình cảnh ở nhà quê rất là thê
thảm.
Ở
các sản nghiệp và các đồn điền, mỏ, hầm, bọn tư bổn bóc lột đè nén
thợ thuyền một cách rất dã man. Tiền lương thì không đủ ăn lại bị cúp
ngược, cúp xuôi. Ngày làm thì trung bình cũng 11, 12 giờ. Thường
thường lại bị chưởi bị đánh. Lúc ốm đau đã không được thuốc thang mà
lại còn bị đuổi. Công nhơn không có chút xã hội bảo hiểm nào cả. ở
trong các đồn điền và hầm mỏ, bọn chủ nhốt thợ thuyền trong trại và
không cho đi ra khỏi chỗ làm. Chúng nó dùng giấy giao kèo mà mộ người
chở đi chỗ khác rồi tự do cai quản lấy thợ thuyền, thậm chí có quyền
xử phạt thợ thuyền. Vì tình cảnh làm ăn cực khổ như thế, cho nên số
công nhơn Đông Dương bị bịnh nguy hiểm (như ho lao, đau mắt, sốt rét,
v.v.) rất đông; số người chết non rất đông và càng ngày càng thêm.
Vô
sản giai cấp Đông Dương tuy chưa đông đúc, nhưng số thợ thuyền càng
ngày càng thêm, nhứt là thợ đồn điền. Sự tranh đấu của thợ thuyền càng
ngày càng hăng hái. Dân cày cũng đã tỉnh dậy chống đế quốc và địa chủ
rất kịch liệt. Những cuộc bãi công trong năm 1928-1929, những cuộc
tranh đấu rất dữ dội của thợ thuyền và dân cày trong năm nay (1930) đã
chứng tỏ ra rằng sự tranh đấu giai cấp ở Đông Dương ngày càng bành
trướng. Đều đặc biệt và quan trọng nhứt trong phong trào cách mạng ở
Đông Dương là sự tranh đấu của quần chúng công nông có tánh chất độc lập
rất rõ rệt, chớ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như
lúc trước nữa.
III - TÁNH CHẤT VÀ NHIỆM VỤ CÁCH MẠNG ĐÔNG DƯƠNG
5.
Hết thảy những đều mâu thuẫn đã kể trên làm cho phong trào cách mạng ở
Đông Dương càng ngày càng phát triển. Trong lúc đầu, cuộc cách mạng
Đông Dương sẽ là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, bởi vì cách mạng
chưa có thể trực tiếp giải quyết được những vấn đề tổ chức xã hội chủ
nghĩa; sức kinh tế trong xứ còn rất yếu, các di tích phong kiến còn
nhiều, sức mạnh giai cấp tương đương chưa mạnh về phía vô sản, và lại
còn bị đế quốc chủ nghĩa áp bức. Vì những điều kiện ấy cho nên thời kỳ
bây giờ cách mạng chỉ có tánh chất thổ địa và phản đế.
Tư
sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng. Tư
sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chánh phủ công nông đã dựng
lên rồi, thì công nghiệp trong nước được phát triển, các tổ chức vô
sản được thêm mạnh, quyền lãnh đạo của vô sản sẽ thêm kiên cố, sức
mạnh giai cấp tương đương sẽ nặng về phía vô sản. Lúc đó sự tranh đấu
sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân quyền tiến lên
con đường cách mạng vô sản. Thời kỳ này là thời kỳ cách mạng vô sản toàn
thế giới và thời kỳ kiến trúc xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xôviết; xứ
Đông Dương sẽ nhờ vô sản giai cấp chuyên chánh các nước giúp sức cho
mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường
xã hội chủ nghĩa.
Trong
cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai
động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới
thắng lợi được.
6.
Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh
đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo
lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, một
mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với
nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa
chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong
kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa. Muốn thực hành được những
đều cốt yếu ấy thì phải dựng lên chánh quyền Xôviết công nông. Chỉ có
chánh quyền Xôviết công nông mới là cái khí cụ rất mạnh mà đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho dân cày có đất mà cày,
làm cho vô sản có pháp luật bảo hộ quyền lợi cho mình.
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ,
b) Lập chánh phủ công nông,
c)
Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các
giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng
đất về chánh phủ công nông,
d) Sung công hết thảy các sản nghiệp lớn của bọn tư bổn ngoại quốc.
đ) Bỏ các sưu thuế hiện thời, lập ra thuế luỹ tiến,
e) Ngày làm công tám giờ, sửa đổi sự sanh hoạt cho thợ thuyền và quần chúng lao khổ,
g) Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận dân tộc tự quyết,
h) Lập quân đội công nông,
i) Nam nữ bình quyền,
k) ủng hộ Liên bang Xôviết; liên kết với vô sản giai cấp toàn thế giới và phong trào cách mạng thuộc địa và bán thuộc địa.
7. Trong cuộc cách mạng ở Đông Dương, địa vị các giai cấp không đều nhau:
a) Bọn tư bổn
đối với đế quốc chủ nghĩa có vị trí không đều nhau: bọn tư bổn thương
mại vì có lợi quyền dính dáng với đế quốc cho nên đứng về một phe với
đế quốc chủ nghĩa và địa chủ mà chống cách mạng. Bọn tư bổn công nghệ
vẫn có lợi quyền trái với đế quốc chủ nghĩa; nhưng vì:
- Là sức lực của chúng nó rất kém,
- Là chúng nó có dính dáng với địa chủ (có nhiều anh kiêm địa chủ),
-
Là chúng nó sợ phong trào vô sản và chịu ảnh hưởng phản cách mạng của
bọn tư bổn Tàu và ấn Độ, cho nên chúng nó không thể đứng về quốc gia
cách mạng mà chỉ đứng về mặt quốc gia cải lương.
Nhưng khi phong trào quần chúng nổi lên cao, cách mạng V.S.1 đến trước mắt thì bọn này sẽ theo phe đế quốc chủ nghĩa.
b) Tiểu tư sản có nhiều hạng, địa vị mỗi hạng lại mỗi khác và trong mỗi thời kỳ cách mạng thì địa vị ấy lại đổi khác nữa:
-
Bọn thủ công nghiệp, vì bị hàng hoá của đế quốc chở tới rất nhiều
cạnh tranh không nổi, cho nên có ác cảm với đế quốc. Đối với phong
trào cách mạng vô sản, bọn này cũng có ác cảm, vì chúng nó muốn giữ
lấy cách bóc lột những thợ học nghề với chúng nó. Vì sự mâu thuẫn ấy
mà thái độ chúng nó đối với cách mạng rất do dự.
-
Bọn tiểu thương gia có quan hệ với cách bóc lột như là buôn bán và
cho vay nặng lời, bởi vậy chúng nó muốn giữ lấy chế độ ấy, vì thế mà
chúng nó không tán thành cách mạng.
-
Bọn trí thức, tiểu tư sản, học sanh, v.v. là bọn xu hướng quốc gia
chủ nghĩa, chúng nó đại biểu quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bổn bổn
xứ, chớ không phải chỉ bênh vực quyền lợi riêng cho bọn tiểu tư sản mà
thôi. Trong thời kỳ chống đế quốc chủ nghĩa thì bọn ấy cũng hăng hái
tham gia, nhưng chỉ lúc đầu mà thôi; chúng nó không thể binh vực quyền
lợi cho dân cày được, vì chúng nó phần nhiều có dây dướng với bọn địa
chủ.
-
Các phần tử lao khổ ở thành phố như là bọn bán rao ngoài đường, bọn
thủ công nghiệp nhỏ không mướn thợ, bọn trí thức thất nghiệp, v.v. vì
sanh hoạt cực khổ cho nên đều theo cách mạng cả.
8. Sức mạnh của cách mạng
a)
Vô sản giai cấp ở Đông Dương phần nhiều do dân cày hoặc là thủ công
thất nghiệp mà hoá ra, còn đương mới mẻ chưa thoát khỏi những tư tưởng
hẹp hòi, những hủ tục phong kiến và ít biết chữ, cho nên sự giai cấp
giác ngộ có bị trở ngại. Tuy vậy, giai cấp ấy rất là tập trung và mỗi
ngày lại thêm đông; và cách bóc lột áp bức theo lối thuộc địa rất tàn
nhẫn, thành thử vô sản giai cấp mau phá sự trở ngại ấy mà nổi lên
tranh đấu càng ngày càng hăng hái để chống lại tư bổn đế quốc. Vì vậy
cho nên vô sản giai cấp thành một động lực chánh và rất mạnh của cách
mạng ở Đông Dương, và lại là giai cấp lãnh đạo cho dân cày và quần
chúng lao khổ làm cách mạng.
b)
Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90 phần 100
(90%)), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền. Nhưng
dân cày ở Đông Dương không phải là nhứt luật như nhau cả. Trong lúc
tranh đấu chống địa chủ và đế quốc chủ nghĩa thì vô sản có thể kéo hết
thảy dân cày về phe cách mạng, nhưng lúc sự phân hoá giai cấp ở thôn
quê càng rộng càng sâu, cuộc thổ địa cách mạng càng bành trướng thì
bọn phú nông càng mau bước sang phe phản cách mạng. Vấn đề thổ địa là
cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp có đứng đầu và
cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để binh vực quyền lợi hằng
ngày cho dân cày, và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, thì
mới có thể giành quyền lãnh đạo cho dân cày được. Đồng minh của giai
cấp vô sản là bọn trung và bần nông.
9. Đối với các giai cấp
a)
Tư bổn bổn xứ chia làm hai bộ phận: một bộ phận thì đã hiệp tác với
đế quốc chủ nghĩa (dự vào các cơ quan chánh trị và kinh tế), một bộ
phận nữa (bọn Huỳnh Thúc Kháng, bọn Phạm Quỳnh, bọn Ngọ báo, v.v..)
hiện còn tìm cách thoả hiệp với đế quốc; chúng nó lợi dụng phong trào
cách mạng để yêu cầu đế quốc những quyền lợi riêng của chúng nó, đồng
thời để lừa gạt quần chúng (ngoài mặt thì chúng nó làm bộ đòi những sự
cải cách, nhưng kỳ thiệt chúng nó kiếm cách phá hoại phong trào cách
mạng của công nông. Chiến lược của Đảng là phải chỉ rõ cái tánh chất
quốc gia cải lương của bọn này ra. Mục đích của bọn này là cốt làm cho
quần chúng sanh mộng tưởng mà quên con đường cách mạng. Nếu từ đây mà
Đảng không tranh đấu kịch liệt để kéo quần chúng ra khỏi ảnh hưởng
quốc gia cải lương, thì ảnh hưởng ấy sẽ thành một sự nguy hiểm cho sự
phát triển của cách mạng. Đảng phải làm cho quần chúng hiểu rõ ràng
các bọn quốc gia cải lương chỉ muốn điều đình với đế quốc chủ nghĩa,
đã nhiều lần phản cách mạng, hết sức chống những đều yêu cầu của quần
chúng.
b) Đảng phải nhận rõ cái tánh chất và địa vị các đảng phái tiểu tư sản
trong cuộc cách mạng (như bọn Quốc dân Đảng, Ng.An Ninh, v.v.). Bây
giờ các đảng phái ấy tuy còn ở trong địa vị quốc gia cách mạng nhưng
rồi đây cũng hoá ra quốc gia cải lương. Các đảng phái ấy đều dính dáng
với giai cấp địa chủ và tư bổn bổn xứ. Đối với đế quốc chủ nghĩa thì
bọn trí thức tiểu tư sản lãnh tụ các đảng phái ấy và chủ trương quốc
gia cách mạng. Nhưng mục đích của họ chỉ chủ trương sự phát triển tư
bổn cho xứ Đông Dương mà thôi. Khi phong trào cách mạng phản đế mới nổi
lên thì họ chống đế quốc chủ nghĩa và binh vực quyền lợi cho giai cấp
tư bổn bổn xứ. Nhưng đến lúc cách mạng phát triển đã cao; lúc phải
giải quyết các vấn đề căn bổn nhứt là vấn đề thổ địa cách mạng và vấn
đề công nông chuyên chánh, thì các đảng phái ấy sẽ bỏ cách mạng mà
chạy về cải lương và hiệp tác với đế quốc chủ nghĩa.
Bởi
vậy cho nên về mặt chánh trị và tổ chức ngay từ lúc đầu, chúng ta
phải phân tách giới hạn của Đảng Cộng sản và các đảng phái tiểu tư sản
cho thiệt rõ, nhứt là phải đánh đổ những xu hướng tiểu tư sản (ám
sát, không tín nhiệm quần chúng, v.v.) ở trong Đảng mình.
Muốn
lợi dụng cho hết mọi cơ hội để mở rộng phong trào cách mạng, Đảng có
thể tạm thời hợp tác với các đảng phái ấy, nhưng nếu các đảng phái ấy
có thiệt ra tranh đấu chống đế quốc chủ nghĩa và không ngăn trở sự cổ
động tuyên truyền cộng sản trong quần chúng công nông thì mới có thể
tạm thời hợp tác được. Nếu không có những điều kiện ấy thì không nên
hợp tác. Khi hợp tác, thì lúc nào Đảng cũng phải giữ cho phong trào
công nông có tánh chất giai cấp, nghĩa là phải giữ lấy quyền tự do cổ
động, tuyên truyền, tổ chức và đem quần chúng tranh đấu theo khẩu hiệu
phản đế và thổ địa cách mạng của Đảng. Đồng thời lại phải chỉ trích
những sự hành động không triệt để và không quả quyết của các đảng phái
ấy, và chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi của họ. Phải dè trước những sự do
dự của họ để dự bị cách đối phó. Phải hết sức đánh đổ ảnh hưởng của
bọn ấy trong quần chúng và phải kéo quần chúng thoát khỏi ảnh hưởng
ấy, để giành lấy quyền lãnh đạo cho vô sản.
10. Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là
cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ
luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh
đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ
nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu
dài, chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương, và lãnh đạo vô sản
giai cấp Đông Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối cùng của vô
sản là chủ nghĩa cộng sản. Muốn làm cho trọn nhiệm vụ của Đảng trong
cuộc cách mạng, trước hết Đảng cần phải: tổ chức ra những đoàn thể độc
lập (công hội, nông hội, v.v.).
a)
Đảng phải thâu phục đại đa số của giai cấp mình, cho nên trách nhiệm
trung tâm của Đảng là tổ chức và khoách trương Công hội đỏ trong những
sản nghiệp trọng yếu và trong các thành phố lớn. Công hội phải thống
nhứt và tập trung theo sản nghiệp và theo địa phương. Phải tổ chức
công xưởng uỷ viên hội, và chú ý tổ chức công nhân các đồn điền và mỏ,
Đảng không những chỉ công tác trong các công hội đó mà thôi, mà lại
cần phải chú ý công tác trong đoàn thể thợ thuyền còn chịu ảnh hưởng bọn
phản động hoặc cải lương, để thâu phục quần chúng. Đảng phải hết sức
liên lạc những sự hoạt động công khai và bí mật để khoách trương cuộc
công nhân vận động.
b)
Muốn lập công nông chuyên chánh thì vô sản giai cấp phải lãnh đạo cho
đại đa số quần chúng lao khổ, nhứt là dân cày. Vậy nên Đảng phải chú ý
về việc tập trung ruộng đất phát triển ra thế nào, và sự mâu thuẫn
giai cấp ở thôn quê. Ngay từ lúc đầu, Đảng phải lãnh đạo dân cày chống
đế quốc và địa chủ. Bần và trung nông là phần tử hăng hái làm cách
mạng thổ địa, cho nên phải hết sức tổ chức họ khắp trong xứ. Đều cần
nhứt của Đảng là phải tổ chức công hội công nhân nông nghiệp cho kiên
cố và làm cho họ thành người lãnh đạo quần chúng nông dân trong cuộc
cách mạng. Còn bọn phú nông thì ngay từ lúc bấy giờ phải chú ý đừng
cho bọn ấy xen vào nông hội, và ảnh hưởng đến trung và bần nông.
11. Cách tranh đấu
Trong
lúc định chiến lược, Đảng phải xét kỹ tình hình trong nước và ngoài
thế giới, sức mạnh của địch nhân, sức tranh đấu của quần chúng, thái
độ các hạng người đối với cách mạng, v.v.. Đảng căn cứ ở những điều
kiện ấy mà định ra chiến lược để lãnh đạo cho quần chúng tranh đấu.
Lúc thường thì phải tuỳ theo tình hình mà đặt khẩu hiệu "phần ít" để
binh vực lợi quyền cho quần chúng như: tăng tiền lương, bớt giờ làm,
giảm thuế, chống thuế, chống sự sanh hoạt mắc mớ, v.v. Để khoách trương
sự tranh đấu cách mạng ra phải đem khẩu hiệu "phần ít" ấy phụ thuộc
vào khẩu hiệu chánh của Đảng như: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, địa chủ
và phong kiến, xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, lập chánh phủ công
nông, v.v..
Không
chú ý đến những sự nhu yếu của sự tranh đấu hằng ngày của quần chúng
là rất sai lầm. Mà nếu chỉ chú ý đến những sự nhu yếu hằng ngày mà
không chú ý đến những mục đích lớn của Đảng cũng là rất sai lầm.
Nhiệm
vụ của Đảng là phải lấy những sự nhu yếu hằng ngày làm bước đầu mà
dắt vô sản giai cấp và dân cày ra chiến trường cách mạng. Đến lúc sức
cách mạng lên rất mạnh, giai cấp thống trị đã rung động, các giai cấp
đứng giữa đã muốn bỏ về phe cách mạng, quần chúng công nông thì sôi
nổi cách mạng, quyết hy sanh phấn đấu, thì Đảng phải lập tức lãnh đạo
quần chúng để đánh đổ chánh phủ của địch nhân và giành lấy chánh quyền
cho công nông.
Lúc
đó Đảng phải ra khẩu hiệu "giao tiếp" và nâng cao những khẩu hiệu ấy
lên như: lập Xôviết, lập hội đồng tịch ký ruộng đất, sản nghiệp do
công nhân kiểm soát, võ trang cho công nông, v.v.. Đồng thời Đảng phải
tổ chức và khuếch trương hết cả các cách tranh đấu của quần chúng như
bãi công, bãi công vừa thị oai, bãi công vừa võ trang thị oai, tổng
bãi công bạo động.
Võ trang bạo động
không phải là một việc thường, chẳng những là theo hình thế trực tiếp
cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú
ý. Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt
tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những
cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để suy
động đại quần chúng ra thị oai, biểu tình bãi công, v.v. để dự bị họ về
cuộc võ trang bạo động sau này.
12. Phản đối đế quốc chiến tranh
Thời
kỳ này là thời kỳ khủng hoảng khắp cả các nước đế quốc, phong trào
công nhân ở các nước và ở Đông Dương nổi lên rất mạnh. Cái nguy cơ
chiến tranh của các đế quốc càng ngày càng gần. Bởi vậy Đảng phải hết
sức khoách trương công tác "phản đối binh bị", và một mặt tổ chức
trong quân đội, một mặt tổ chức đội tự vệ của công nông, phải làm cho
các khẩu hiệu chống đế quốc chủ nghĩa chiến tranh lan khắp và sâu vào
trong quần chúng, như: đổi chiến tranh đế quốc ra chiến tranh cách mạng,
đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và giai cấp bóc lột. Binh vực Liên bang
Xôviết và phong trào cách mạng trong thế giới, v.v..
13. Liên lạc với vô sản và dân thuộc địa thế giới
Vô
sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhứt là
vô sản Pháp để làm mặt trận vô sản "mẫu quốc" và thuộc địa cho sức
tranh đấu cách mạng được mạnh lên.
Trong
cuộc tranh đấu chống đế quốc, quần chúng cách mạng ở Đông Dương lại
phải liên lạc với quần chúng cách mạng ở các thuộc địa và bán thuộc
địa, nhứt là ở Tàu và ấn Độ, v.v..
Trong công tác, Đảng phải liên lạc mật thiết với Đảng Cộng sản Pháp, Tàu và Ấn Độ.
__________
1.V.S.: vô sản (B.T.).
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện
Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998, t.2, tr.88-103.