CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM*
CHƯƠNG I
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Sau chiến tranh thứ hai, chế độ phát-xit sụp đổ, cuộc tổng khủng
hoảng của chủ nghĩa tư bản thêm trầm trọng, Liên-xô ngày càng cường
thịnh, phong trào dân chủ lên cao. Thế giới chia làm hai phe: phe dân
chủ chống đế quốc do Liên-xô lãnh dạo, phe đế quốc phản dân chủ do Mỹ
cầm đầu.
Phe dân chủ ngày một mạnh, phe đế quốc ngày một suy. Cán cân lực lượng giữa hai phe đã nghiêng hẳn về phe dân chủ.
Muốn thoát khỏi nạn khủng hoảng, đế quốc Mỹ và các đế quốc khác đang
ra sức chuẩn bị chiến tranh thứ ba và mở rộng các cuộc chiến tranh xâm
lược. Nguy cơ chiến tranh đã rõ rệt. Nhiệm vụ trung tâm của giai cấp
công nhân và nhân dân thế giới lúc này là đấu tranh bảo vệ hòa bình.
Dưới sự lãnh đạo của Liên-xô đứng đầu là Thống chế Xít-ta-lin, phe dân
chủ mở rộng thành mặt trận hòa bình thế giới, kiên quyết chống bọn
gây chiến. Phong trào hòa bình sâu rộng, mạnh mẽ chưa từng có trong
lịch sử. Đế quốc gây ra chiến tranh thứ ba tức là tự sát.
2.
Trong chiến tranh và sau chiến tranh thứ hai nhờ chủ nghĩa xã hội thắng
chủ nghĩa phát xít, cách mạng dân chủ nhân dân lan rộng và đã thành
công ở nhiều nước Trung Đông Âu và Viễn đông. Chế độ dân chủ nhân dân
thành lập, tách những nước đó ra khỏi hệ thống đế quốc chủ nghĩa.
Cách mạng dân chủ nhân dân ngày càng có tính chất phổ biến. Nó là con
đường chung cho các nước tiền tiến cũng như các nước thuộc địa, và nửa
thuộc địa, cho những nước gần Liên-xô cũng như những nước xa Liên-xô.
3. Một đặc điểm của thế giới sau chiến tranh thứ hai là
phong trào giải phóng thuộc địa và nửa thuộc địa sôi nổi làm lay
chuyển hệ thống đế quốc chủ nghĩa đến tận nền tảng.
Phong
trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa đã trở thành
một bộ phận khăng khít của phong trào chống bọn đế quốc gây chiến, bảo
vệ hòa bình và giành dân chủ trên thế giới.
Hiện nay bọn
đế quốc Anh, Pháp, Hà v.v.. đang dùng thủ đoạn xảo quyệt thừa nhận độc
lập giả hiệu, mua chuộc giai cấp tư sản và địa chủ bản quốc để đuy trì
quyền thống trị của chúng ở các thuộc địa. Đế quốc Mỹ cũng ra sức biến
những thuộc địa đó thành thị trường và căn cứ quân sự của mình. Nhưng
các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa đã nhận rõ con đường cứu sống
duy nhất của mình là: đoàn kết dân tộc mật thiết liên lạc với nhân dân
thế giới, đặc biệt với nhân dân lao động chính quốc kiên quyết tiến
hành đấu tranh võ trang lâu đài dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân.
Họ nhất định sẽ thắng lợi.
4. Việt Nam là một tiền đồn của phe dân chủ ở Đông Nam á.
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào giải phóng dân tộc,
bảo vệ hoà bình và dân chủ trên thế giới. Trong khi giành tự do, độc
lập cho mình, dân tộc Việt Nam bảo vệ hoà bình thế giới và làm cho chế
độ dân chủ phát triển ở Đông Nam á. Nhờ những thắng lợi của phe dân
chủ trên thế giới đặc biệt là sự thành công vĩ đại của nhân dân Trung
Quốc và do sự cố gắng của toàn thể dân tộc, cách mạng Việt Nam nhất
định sẽ thành công.
CHƯƠNG II
XĂ HỘI VIỆT NAM VÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
I. Xã hội Việt Nam
1. Trước hồi thuộc Pháp, xã hội Việt Nam căn bản là một xã hội phong
kiến. Nền tảng của xã hội đó là kinh tế nông nghiệp phần lớn có tính
chất kinh tế tự nhiên. Ruộng đất là của vua quan và địa chủ phong
kiến.
Nông dân bị bóc lột áp bức nặng nề, sống rất cực khổ.
Họ càng thống khổ hơn khi có bọn phong kiến nước ngoài đến thống trị.
Họ cần được giải phóng. Họ cần có ruộng đất. Vì vậy nông dân đã nhiều
lần khởi nghĩa. Những lần họ đấu tranh rộng rãi và quyết liệt đều đưa
đến một cuộc thay đổi triều đại trong nước hoặc một cuộc giải phóng
dân tộc vẻ vang. Nhưng vì điều kiện kinh tế và xã hội chưa đầy đủ,
thiếu một giai cấp tiền tiến lãnh đạo, cho nên trải qua bao nhiên thế
kỷ, cuộc đấu tranh của nông dân không thay đổi được tính chất phong
kiến của xã hội Việt Nam.
2. Từ khi bị đế quốc Pháp chinh
phục, Việt Nam biến thành một thị trường độc chiếm, một nguồn cung cấp
nguyên liệu một nơi cho vay lấy lãi và một căn cứ đóng quân của thực
dân Pháp. Tính chất tự cấp tự túc của kinh tế phong kiến Việt Nam bị
lay chuyển.
Sau chiến tranh thứ nhất do chính sách "đặc biệt
khai thác thuộc địa" của đế quốc Pháp, kỹ nghệ khai mỏ và kỹ nghệ nhẹ
của Pháp được mở mang thêm ở Việt Nam. Giai cấp công nhân Việt Nam
thành hình và trưởng thành mau chóng. Tư bản Việt Nam ra đời nhưng bị
tư bản độc quyền Pháp đè nén nên không phát triển được mấy.
Chính sách thuộc địa của đế quốc Pháp ở Việt Nam là một chính sách hẹp
hòi, bảo thủ. Chính sách ấy làm cho Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào
nước Pháp. Nó kìm hãm sức phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt
Nam. Nó kết hợp những hình thức áp bức bóc lột tư bản với những hình
thức áp bức bóc lột phong kiến và nửa phong kiến, làm cho nhân dân
Việt Nam nhất là công nhân và nông dân vô cùng thống khổ.
Trong chiến tranh thứ hai phát xít Nhật xâm chiếm Việt Nam, chế độ thuộc
địa của Pháp ở Việt Nam cũng phát xít hóa. Nhân dân Việt Nam càng
thống khổ hơn.
Nhiều cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Các khu căn cứ
du kích phát triển và chính quyền nhân dân thành lập ở khu giải phóng
Việt Bắc.
Song nói chung, dưới thời thuộc Pháp, xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa và nửa phong kiến.
3. Năm 1945, bị quân đội Xô-viết đánh bại, phát xít Nhật đầu hàng.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Đông
dương, nhân dân Việt Nam tổng khởi nghĩa thắng lợi. Nước cộng hòa dân
chủ Việt Nam thành lập. Nhưng cải cách dân chủ được thực hiện. Xã hội
Việt Nam bước vào con đường dân chủ nhân dân.
Nhưng đế
quốc Pháp trở lại xâm lược. Cuộc kháng chiến trường kỳ và toàn diện của
dân tộc Việt Nam bắt đầu. Hiện nay được bọn can thiệp Mỹ viện trợ và
bù nhìn phản quốc giúp sức, đế quốc Pháp đã đặt lại chế độ thuộc địa,
phát xít trên một phần đất nước ta.
Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến.
Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc
này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc
địa. Mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình cuộc kháng
chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và bọn can thiệp.
II. Cách mạng Việt Nam
1.Hiện nay cách mạng Việt Nam phải giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ
dân chủ nhân dân Việt Nam và những thế lực phản động, khiến cho chế độ
ấy phát triển mạnh mẽ và thuận chiều tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thế lực phản động chính đang ngăn cản sự phát triển của xã hội Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược.
Những di tích phong kiến cũng làm cho xã hội Việt Nam đình trệ. Do đó
cách mạng Việt Nam có hai đối tượng. Đối tượng chính hiện nay là chủ
nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can
thiệp Mỹ. Đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này là
phong kiến phản động.
2. Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách
mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược giành độc lập và thống
nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa
phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân
dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Ba nhiệm vụ đó khăng
khít với nhau. Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng
dân tộc. Cho nên lúc này phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến
để quyết thắng quân xâm lược.
3. Động lực của cách mạng
Việt Nam lúc này là: công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu
tư sản trí thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ)
yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó họp thành
nhân dân. Nền tảng của nhân dân là công nông và lao động trí thức.
Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân.
4. Giải
quyết những nhiệm vụ cơ bản nói trên do nhân dân làm động lực, công nông
và lao động trí thức làm nền tảng và giai cấp công nhân lãnh đạo,
cách mạng Việt Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân. Cách mạng đó không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ cũng
không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân
chủ tư sản lối mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, không
phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng. Đó là một thứ cách mạng
điển hình trong điều kiện lịch sử hiện nay.
5. Cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ
nghĩa xã hội. Do giai cấp công nhân lãnh đạo, liên minh chặt chẽ với
nông dân và lao động trí óc, lại được sự giúp đỡ của Liên-xô và các nước
dân chủ nhân dân, nhất là Trung Quốc, cách mạng Việt Nam không thể đi
con đường nào khác ngoài con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đó là một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải qua ba giai đoạn:
giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc;
giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong
kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát
triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba,
nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực
hiện chủ nghĩa xã hội.
Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau,
mà mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau. Nhưng mỗi giai đoạn có một
nhiệm vụ trung tâm, phải nắm vững nhiệm vụ trung tâm đó để tập trung
lực lượng vào đó mà thực hiện.
Trong giai đoạn thứ nhất,
giai đoạn hiện tại, mũi nhọn của cách mạng chĩa vào đế quốc xâm lược.
Đảng phải tập hợp mọi lực lượng dân tộc, lập Mặt trận dân tộc thống
nhất, kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược và các hạng Việt gian. Đồng
thời phải cải thiện đời sống cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao
động, để cho nhân dân hăng hái kháng chiến.
Song giai đoạn
thứ hai, mũi nhọn của cách mạng chĩa vào lực lượng phong kiến. Lúc đó
Đảng phải tập trung lực lượng xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa
phong kiến, triệt để thực hiện người cày có ruộng, đẩy mạnh việc kỹ nghệ
hóa: hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân. Song, vẫn tiếp tục chống đế
quốc thế giới bảo vệ độc lập của dân tộc.
Đến giai đoạn
thứ ba, trọng tâm của cách mạng là phát triển cơ sở xã hội chủ nghĩa,
chuẩn bị thực hiện chủ nghĩa xã hội. Những bước cụ thể của giai đoạn này
phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong nước và ngoài nước
khi đó mà quyết định.
CHƯƠNG III
CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Đảng Lao động nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ di
tích phong kiến và nửa phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân,
làm cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, dân chủ tự do, phú cường
và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong kháng chiến và ngay
sau kháng chiến Đảng Lao động Việt Nam chủ trương thi hành những chính
sách sau đây đặng đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở
kiến thiết quốc gia.
1. Kháng chiến
1.
Nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến đến cùng chống thực dân Pháp và
bọn can thiệp Mỹ để giành độc lập và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.
2. Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh nhân dân. Đặc điểm
của nó là: toàn dân, toàn diện trường kỳ. Nó phải trải qua ba giai
đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng phản công.
3. Nhiệm vụ
trọng tâm của cuộc kháng chiến từ nay đến thắng lợi là: hoàn thành
việc chuẩn bị tổng phản công và tổng phản công thắng lợi. Muốn vậy phải
tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực vào việc kháng chiến theo
khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả chiến thắng. Đồng thời phải
luôn luôn bồi dưỡng lực lượng kháng chiến về mọi mặt.
4. Phải nắm vững phương châm chiến lược của chiến tranh nhân dân là :
- Các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hóa đều nhằm mục đích làm
cho quân sự thắng lợi. Đồng thời, đấu tranh quân sự phải phối hợp với
đấu tranh chính trị, kinh tế vv...
- Phối hợp việc tác chiến trước mặt địch với việc đánh du kích quấy rối phá hoại sau lưng địch.
2. Chính quyền nhân dân
1. Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính quyền dân
chủ của nhân dân nghĩa là của công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành
thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc và các thân sĩ (địa chủ) yêu
nước và tiến bộ. Những tầng lớp nhân dân ấy chuyên chính đối với đế
quốc xâm lược và bọn phản quốc. Cho nên nội dung chính quyền đó là
nhân dân dân chủ chuyên chính.
2. Chính quyền đó dựa vào Mặt
trận dân tộc thống nhất lấy liên minh công nhân, nông dân và lao động
trí thức làm nền tảng và do giai cấp công nhân lãnh đạo.
3.
Nguyên tắc, tổ chức của chính quyền đó là dân chủ tập trung. Cơ quan
chính quyền ở địa phương là Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính
(hiện nay là ủy ban kháng chiến hành chính). Cơ quan chính quyền tối
cao toàn quốc là Quốc hội và Hội đồng Chính phủ.
3. Mặt trận dân tộc thống nhất
1. Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam đoàn kết tất cả mọi đảng phái,
mọi đoàn thể và mọi thân sĩ yêu nước, không phân biệt giai cấp, chủng
tộc tôn giáo, nam nữ để cùng nhau kháng chiến kiến quốc. Nó ủng hộ
chính quyền bằng cách động viên và giáo dục nhân dân thi hành mệnh
lệnh chính quyền cũng như bằng cách đề đạt ý kiến, nguyện vọng của
nhân dân lên chính quyền.
2. Mặt trận dân tộc thống nhất lấy liên minh công nông và lao động trí thức làm nòng cốt và do giai cấp công nhân lãnh đạo.
3. Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết với các đảng phái, các đoàn thể các
thân sĩ trong Mặt trận dân tộc thống nhất theo nguyên tắc :
Đoàn kết thành thực: các bộ phận của Mặt trận giúp đỡ lẫn nhau và phê bình lẫn nhau một cách thân ái để cùng nhau tiến.
- Thống nhất hành động: các bộ phận của Mặt trận thương lượng thỏa
thuận với nhau để thống nhất mọi hành động theo một chương trình
chung. Song mỗi đoàn thể của Mặt trận vẫn độc lập về tổ chức và có
chương trình hoạt động tối đa của mình.
- Hợp tác lâu dài:
các bộ phận trong Mặt trận đoàn kết nhau trong trường kỳ kháng chiến
và trong công cuộc kiến quốc sau khi kháng chiến thắng lợi.
4, Quân đội
1. Quân đội Việt Nam là quân đội nhân dân, do nhân dân tổ chức và vì
nhân dân mà chiến đấu. Nó có tính chất: dân tộc, dân chủ và hiện đại.
2. Trong kháng chiến, nguồn bổ sung chủ yếu của nó là bộ đội địa
phương và dân quân du kích và nguồn trang bị chủ yếu của nó là tiền
tuyến.
Kỷ luật của nó rất nghiêm, nhưng là kỷ luật tự giác
và dân chủ. Vừa tác chiến, nó vừa tiến hành công tác chính trị rộng
rãi làm cho trên dưới một lòng, quân dân nhất trí và tinh thần lính
địch tan rã.
5. Kinh tế tài chính
1.
Nhưng nguyên tắc lớn của chính sách kinh tế hiện nay là đảm bảo quyền
lợi của công và tư, của tư bản và lao động tăng gia sản xuất mọi mặt
để cung cấp cho nhu cầu kháng chiến và cải thiện dân sinh, đặc biệt là
cải thiện đời sống của nhân dân lao động.
2. Trong các
ngành sản xuất, hiện nay phải chú trọng nhất việc phát triển nông
nghiệp. Về công nghiệp chú trọng phát triển tiểu công nghệ và thủ công
nghiệp đồng thời xây dựng kỹ nghệ phát triển thương nghiệp. Phát triển
nền tài chính theo nguyên tắc. Tài chính dựa vào sản xuất và đẩy mạnh
sản xuất. Chính sách tài chính là: .
- Tăng thu bằng cách tăng gia sản xuất, giảm chi bằng cách tiết kiệm.
- Thực hiện chế độ đóng góp dân chủ,
Chú trọng gây cơ sở kinh tế Nhà nước và phát triễn kinh tế hợp tác xã.
Đồng thời giúp đỡ tư nhân trong việc sản xuất. Đặc biệt đối với tư
sản dân tộc, khuyến khích, giúp đỡ và hướng dẫn họ kinh doanh.
3. Trong kháng chiến đi đôi với việc mở mang kinh tế quốc dân, phải
tùy nơi, tùy lúc mà phá hoại và bao vây kinh tế địch một cách có kế
hoạch, có hại cho địch mà không hại cho ta. Giải phóng đến đâu thì
tịch thu tài sản của địch đến đó, thủ tiêu kinh tế thực đân của chúng.
6. Cải cách ruộng đất
1. Trong kháng
chiến chính sách ruộng đất chủ yếu là giảm tô, giảm tức. Ngoài ra thi
hành những cải cách khác như: quy định chế độ lĩnh canh, tạm cấp ruộng
đất của thực dân Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo, chia lại công
điền, sử dụng hợp lý ruộng vắng chủ và ruộng bỏ hoang v.v...
2. Mục đích của những cải cách đó là cải thiện đời sống nông dân, đồng
thời xúc tiến tăng gia sản xuất, bảo đảm cung cấp và đoàn kết toàn
dân để kháng chiến.
7. Văn hoá giáo dục
1.
Để đào tạo con người mới và cán bộ mới và để đẩy mạnh kháng chiến kiến
quốc, phải bài trừ những di tích văn hóa giáo dục thực dân và phong
kiến phát triển nền văn hóa giáo dục có tính chất: về hình thức thì
dân tộc, về nội dung thì khoa học, về đối tượng thì đại chúng.
2. Chính sách văn hoá giáo dục hiện nay là:
- Thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độ giáo dục, mở mang các trường chuyên nghiệp.
- Phát triển khoa học, kỹ thuật và văn nghệ nhân dân.
- Phát triển tinh hoa của văn hoá dân tộc đồng thời học tập văn hóa Liên-xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác.
- Phát triển văn hóa dân tộc thiểu số.
8. Đối với tôn giáo
Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Đồng thời nghiêm trị những kẻ lợi dụng tôn giáo mà phản quốc.
9. Chính sách dân tộc
1. Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ
nghĩa đân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ
giữa các dân tộc.
2. Thừa nhận quyền tự trị địa phương đối
với những dân tộc thiểu số tương đối đông sống tập trung vào một vùng.
Song phải chuẩn bị cán bộ địa phương thiểu số và tư tưởng để khi có
điều kiện thì thực hiện quyền đó.
3. Đối với những dân tộc
thiểu số ở rải rác, giúp đỡ và đảm bảo việc họ tham gia chính quyền và
dùng tiếng mẹ đẻ trong việc giáo dục.
4. Không xúc phạm đến
tín ngưỡng, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số làm cho các
dân tộc ấy tự giác cải cách tùy theo điều kiện của họ. .
5. Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá.
10. Đối với vùng tạm bị chiếm
1. Vùng tạm bị chiếm là hậu phương của địch. Công tác vùng đó là một phần trọng yếu của toàn bộ công tác kháng chiến.
2. Chính sách đối với vùng tạm bị chiếm là: đoàn kết rộng rãi mọi tầng
lớp nhân dân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố chính quyền cách
mạng, phá ngụy quyền ngụy quân, phối hợp đấu tranh với vùng tự do.
3. Đối với các hạng người trong hàng ngũ của địch thì trừng trị bọn
cầm đầu nếu chúng không hối cải, khoan hồng đối với những kẻ lầm lỡ đã
biết ăn năn.
4. Khu mới giải phóng đoàn kết an dân.
11. Ngoại giao
1. Nhưng nguyên tắc của chính sách ngoại giao là nước ta và các nước
tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất quốc gia của
nhau và cùng nhau bảo vệ hòa bình dân chủ thế giới, chống bọn gây
chiến.
2. Đoàn kết chặt chẽ với Liên-xô, Trung Quốc và các
nước dân chủ nhân dân khác và tích cực ủng hộ phong trào giải phóng
thuộc địa và nửa thuộc địa. Mở rộng ngoại giao nhân dân; giao thiệp
thân thiện với chính phủ nước nào tôn trọng chủ quyền của Việt Nam,
đặt quan hệ ngoại giao với các nước đó theo nguyên tắc tự do, bình
đẳng và có lợi cho cả hai bên.
2. Đối với Miên Lào
1. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào và hết
sức giúp đỡ hai dân tộc ấy cùng nhau kháng chiến chống đế quốc xâm
lược, giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông dương.
2.
Nhân dân Việt Nam đứng trên lập trường lợi ích chung mà hợp tác lâu dài
với hai dân tộc Miên Lào trong kháng chiến và sau kháng chiến.
13. Đối với ngoại kiều
1. Tất cả mọi ngoại kiều tôn trọng pháp luật nước Việt Nam đều được
quyền cư trú, được bảo đảm sinh mệnh, tài sản và được làm ăn tự do
trên đất nước Việt Nam.
2. Các kiều dân thuộc quốc tịch
các nước dân chủ nhân dân được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ như
công dân Vịệt Nam, nếu họ muốn và Chính phủ nước họ thỏa thuận với
Chính phủ nước ta.
Đặc biệt đối với Hoa kiều :
-
Hoa kiều vùng tự do được hưởng tất cả quyền lợi của công dân Việt Nam,
đồng thời ta vận động họ tình nguyện làm nghĩa vụ của công dân Việt
Nam.
- Đối với Hoa kiều vùng tạm bị chiếm, vận động họ ủng hộ, tham gia kháng chiến chống đế quốc xâm lược Pháp, Mỹ.
3. Các người ngoại quốc vì đấu tranh cho độc lạp, dân chủ hòa bình, bị
các chính phủ phản động truy nã mà lánh nạn vào nước ta thì được ta
nhiệt liệt bảo vệ và giúp đỡ.
14. Đấu tranh cho hoà bình và dân chủ thế giới
1. Đấu tranh cho hòa bình thế giới là nhiệm vụ quốc tế của nhân đân
Việt Nam. Kháng chiến chống đế quốc xâm lược là một phương pháp triệt
để nhất của dân ta để làm nhiệm vụ ấy.
2. Phối hợp cuộc
kháng chiến của ta với các cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới, nhất
là của nhân dân Liên xô, Trung quốc và các nước dân chủ nhân dân khác
của các dân tộc bị áp bức, của nhân dân Pháp.
15. Thi đua ái quốc
1. Thi đua ái quốc là một điệu làm việc mới. Phong trào thi đua là một
phong trào quần chúng. Thi đua là thực hiện kế hoạch đã định.
2. Lúc này kế hoạch thi đua nhằm giết giặc ngoại xâm, tăng gia sản
xuất và diệt giặc dốt. Bộ đội, nông dân, công xưởng và lớp học là
những nơi thi đua chính.
Trên đây là chính sách của Đảng Lao động Việt Nam.
Tất cả mọi đảng viên phải hiểu rõ chính sách đó.
Đồng thời làm cho quần chúng nhân dân và các đoàn thể trong Mặt trận
dân tộc thống nhất nhận định chính sách đó là chính sách chung.
Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, toàn Đảng và toàn dân hãy hăng hái
phấn đấu tiêu diệt đế quốc xâm lược, đặng thực hiện chính sách đó
trong phạm vi toàn quốc mang lại độc lập tự do, hạnh phúc cho dân tộc.
__________
*Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng thông qua (2-1951) (B.T.).
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiệnĐảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001, t.12, tr.429-443.